Cô giáo như mẹ hiền

Địa chỉ: Ấp Giồng Bướm A - xã Châu Thới
Điện thoại: 0291.3896.308
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tuyên truyền phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ

SUY DINH DƯỠNG

 

1. Suy dinh dưỡng ở trẻ em là gì?

Suy dinh dưỡng trẻ em là tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng bao gồm thiếu năng lượng, protein, lipid và các vi chất dinh dưỡng. Bệnh phổ biến ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi. Theo báo cáo Tình hình Trẻ em Thế giới năm 2019 của Tổ chức Unicef, trên thế giới cứ 3 trẻ dưới 5 tuổi thì có một trẻ thiếu dinh dưỡng. Tại Việt Nam, có hơn 230.000 trẻ em dưới 5 tuổi thiếu dinh dưỡng cấp tính nặng mỗi năm; đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thiếu dinh dưỡng thể thấp còi và tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi.

2. Nguyên nhân khiến trẻ suy dinh dưỡng

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em. Tuy nhiên, các nguyên nhân hầu như xuất phát từ chế độ dinh dưỡng cho trẻ, thói quen ăn uống không lành mạnh hay những vấn đề dinh dưỡng không tốt trong thai kỳ của người mẹ.

3. Dấu hiệu nhận biết trẻ suy dinh dưỡng

Bệnh suy dinh dưỡng trẻ em được chia theo nhiều mức độ khác nhau từ nhẹ, vừa đến nặng.

- Suy dinh dưỡng diễn ra rất sớm nhưng để lại hậu quả lâu dài: suy dinh dưỡng bào thai.

- Suy dinh dưỡng mức độ nhẹ đến vừa: suy dinh dưỡng thiếu cân, suy dinh dưỡng thấp còi, suy dinh dưỡng gầy còm.

- Suy dinh dưỡng mức độ nặng: suy dinh dưỡng thể phù, suy dinh dưỡng thể teo đét, suy dinh dưỡng thể hỗn hợp.

3.1. Suy dinh dưỡng thấp còi

Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chiều cao của trẻ sơ sinh khỏe mạnh khoảng 50cm. Trong 3 tháng đầu, trẻ tăng thêm khoảng 3cm/tháng và tăng 2cm ở các tháng tiếp theo. Dấu hiệu dễ nhận thấy nhất của suy dinh dưỡng thấp còi chính là tình trạng chậm tăng trưởng chiều cao, lúc này trẻ chỉ đạt được 90% theo mức tiêu chuẩn.

3.2. Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 

Khi cân nặng của trẻ thấp hơn cân nặng tiêu chuẩn của WHO theo độ tuổi từ 90% trở xuống, trẻ có khả năng mắc phải suy dinh dưỡng thể nhẹ cân.

Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ được chia thành 3 cấp độ như sau:

– Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cấp độ 1: Trọng lượng của trẻ chỉ đạt 90% so với cân nặng chuẩn ở độ tuổi của mình.

– Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cấp độ 2: Trọng lượng của trẻ chỉ đạt 75% so với cân nặng chuẩn ở độ tuổi của mình.

– Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cấp độ 3: Trọng lượng của trẻ chỉ đạt 60% so với cân nặng chuẩn ở độ tuổi của mình.

Trẻ suy dinh dưỡng thiếu cân thường có dấu hiệu: biếng ăn hoặc ăn ít, cơ thể khó hấp thu các chất dinh dưỡng, khó tăng cân…

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có thể kể đến như: trẻ không được bú mẹ trong 6 tháng đầu, sữa mẹ không đủ dưỡng chất, trẻ ăn bổ sung quá sớm, trẻ bị thiếu vi chất, chế độ ăn thiếu khoa học, sức đề kháng kém; trẻ hay bị ốm nên dẫn đến tình trạng chán ăn, ăn không đủ chất…

3.3. Suy dinh dưỡng gầy còm

Trong trường hợp cân nặng của trẻ chỉ đạt 60% so với mức cân nặng tiêu chuẩn của WHO và đi kèm những triệu chứng sau: tr biếng ăn, khuôn mặt xanh xao, thở khó khăn, rối loạn tiêu hóa thường xuyên. Đặc biệt, trẻ có làn da nhăn nheo, vẻ ngoài “già nua” hơn so với tuổi thật của mình và nhiệt độ cơ thể thường giảm bất thường thì khả năng trẻ đã rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng gầy còm là rất cao.

3.4. Suy dinh dưỡng thể teo đét

Lúc này trẻ đang bị “đói thật sự” với tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng ở mức báo động. Biểu hiện của trẻ suy dinh dưỡng thể teo đét là cơ thể gầy khô, hốc hác khi đã mất hết lớp mỡ dưới da ở toàn thân, chỉ còn da bọc xương và da nhăn nheo như người già. Trẻ suy dinh dưỡng thể teo đét rất dễ nhiễm bệnh, hay quấy khóc và thường xuyên rối loạn tiêu hóa.

3.5. Suy dinh dưỡng thể phù

Đây là tình trạng suy dinh dưỡng khiến cơ thể trở nên “mũm mĩm” và “tròn trịa hơn”, điều này đã khiến nhiều bố mẹ nhầm tưởng con mình đang rất khỏe mạnh. Khởi đầu từ mí mắt, mặt và hai chi dưới, sau đó sẽ phù toàn thân kèm theo tràn dịch màng bụng, màng phổi…

Đặc điểm ở trẻ suy dinh dưỡng thể phù là sưng toàn thân, da trắng bệch, cơ mềm, cân nặng chỉ đạt khoảng 60-80% so với tiêu chuẩn, tóc thưa mềm, dễ gãy, bụng chướng to…Trên da xuất hiện những đốm nhỏ đỏ li ti khắp cơ thể, dần bị đổi màu và bong tróc, rỉ nước, dễ dàng bị nhiễm trùng và lở loét.

3.6. Suy dinh dưỡng thể hỗn hợp

Đây là suy dinh dưỡng thể phù do được điều trị, khi trẻ hết phù sẽ trở thành teo đét nhưng gan vẫn còn to do thoái hóa mỡ và chưa được phục hồi hoàn toàn. Ở giai đoạn này, trẻ chỉ đạt 60% mức cân nặng tiêu chuẩn, tuy bị teo cơ nhưng có thể có biểu hiện phù, biếng ăn, rối loạn tiêu hóa, bụng bị phình to. Hoặc trẻ suy dinh dưỡng teo đét, da bọc xương nhưng lại kèm rối loạn sắc tố da.

Trên đây là dấu hiệu nhận biết các thể suy dinh dưỡng thường gặp ở trẻ em. Tuy nhiên, để đánh giá chính xác tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ, tại Trung tâm Dinh dưỡng – Y học Vận động Nutrihome, các chuyên gia dinh dưỡng áp dụng chỉ số Z-score theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Đây là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dựa vào cân nặng, chiều cao và độ tuổi. Nếu trẻ có những biểu hiện như trên, bố mẹ cần đưa trẻ đến ngay trung tâm dinh dưỡng để các chuyên gia đánh giá chính xác tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ và có biện pháp can thiệp kịp thời.

4. Hậu quả của bệnh suy dinh dưỡng ở trẻ

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 54% số trường hợp tử vong của trẻ ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) có liên quan đến suy dinh dưỡng mức độ vừa và nhẹ.

Theo PGS.TS.BS Lê Bạch Mai, nếu trẻ mắc bệnh suy dinh dưỡng mà không có giải pháp can thiệp kịp thời, trẻ sẽ phải gánh chịu hàng loạt vấn đề như: không thể phát triển tầm vóc, dễ mắc bệnh, chậm phát triển trí não, ngôn ngữ, giao tiếp kém hơn và việc học tập cũng trở nên khó khăn hơn.

Một nghiên cứu của Viện Dinh Dưỡng đã chỉ ra rằng hậu quả của suy dinh dưỡng có thể kéo dài qua nhiều thế hệ. Phụ nữ từng bị suy dinh dưỡng khi còn nhỏ hoặc ở tuổi vị thành niên đến khi lớn lên có khả năng bị suy dinh dưỡng khi mang thai. Nếu mẹ bị suy dinh dưỡng, con sinh ra yếu ớt, nhẹ cân dễ dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng (thiếu cân hoặc thấp còi) ngay trong năm đầu sau sinh. Nguy hiểm hơn, những trẻ này có nguy cơ tử vong cao hơn so với trẻ bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường.

5. Phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ bằng chế độ dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng trẻ em là bệnh lý liên quan trực tiếp đến chế độ dinh dưỡng và thói quen ăn uống. Vì thế, để phòng ngừa tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em chúng ta cần thay đổi từ chế độ dinh dưỡng cho trẻ trong bụng mẹ đến khi sinh ra đời.

Chế độ dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai

PGS.TS.BS Lê Bạch Mai cho biết, những người mẹ có chế độ dinh dưỡng đầy đủ, hợp lý, tăng cân tốt (10-12kg) trong thai kỳ sẽ sinh ra những em bé khỏe mạnh, thông minh.

Phụ nữ khi mang thai có nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cao hơn trước khi có thai, nhu cầu năng lượng của người mẹ tăng tỷ lệ thuận với tháng tuổi của thai nhi. Để đạt mức tăng cân từ 10 – 12kg vào cuối thai kỳ, các bà mẹ cần ăn nhiều hơn để đảm bảo năng lượng tăng thêm 500 Kcal/ngày và đạt mức 2260 Kcal/ ngày đối với người lao động nhẹ và 2550 Kcal/ngày đối với người lao động trung bình. Trong giai đoạn này, mẹ bầu cần chú ý bổ sung đủ các dưỡng chất ở cả 4 nhóm: bột đường (glucid); đạm (protein); béo (lipid); các loại vitamin, chất xơ và khoáng chất. Không nên quá thừa hoặc quá thiếu các chất này. Nếu thiếu dinh dưỡng, mẹ dễ bị thiếu năng lượng, trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng bào thai.

Chế độ dinh dưỡng giai đoạn cho con bú

Theo PGS.TS.BS Lê Bạch Mai, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cần được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời và nên kéo dài đến 24 tháng tuổi. Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy trẻ được nuôi bằng sữa mẹ ít mắc các bệnh nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng, thừa cân – béo phì, giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính khi trưởng thành… 

Chế độ dinh dưỡng giai đoạn cho trẻ ăn dặm và trẻ lớn

Sau 6 tháng, trẻ bắt đầu ăn dặm. Lúc này, thực đơn mỗi ngày của trẻ phải đảm bảo cung cấp đầy đủ các nhóm chất: bột đường (cơm, cháo), chất đạm (thịt, cá, trứng), chất béo (dầu ăn, mỡ động vật, bơ), chất xơ, vitamin và khoáng chất (các loại rau, củ, quả, sữa và các chế phẩm từ sữa…) để đảm bảo bé luôn được cung cấp đủ năng lượng theo nhu cầu. Các bậc phụ huynh đừng quên theo dõi thường xuyên cân nặng và chiều cao để đánh giá đúng và phát hiện kịp thời.

Đối với trẻ lớn hơn, hệ tiêu hóa vững chắc hơn và đã quen với việc hấp thụ nhiều loại thức ăn khác nhau, bố mẹ nên tăng năng lượng khẩu phần ăn. Hãy cho trẻ ăn nhiều món trong một bữa và đa dạng nhiều nhóm chất dinh dưỡng. Để trẻ không cảm thấy mình bị “ép ăn quá nhiều” cùng lúc, bố mẹ nên chia nhỏ các bữa ăn, lượng thức ăn mỗi bữa ăn có thể ít hơn trẻ bình thường nhưng số bữa phải nhiều hơn. Và mẹ cần có thực đơn đa dạng, sáng tạo những món ăn lạ miệng, bắt mắt để kích thích sự thèm ăn của trẻ. 

Trẻ suy dinh dưỡng cần bổ sung gì?

Bên cạnh việc cung cấp 3 nhóm chất chính là đạm, đường, béo, việc bổ sung các loại vitamin và khoáng chất thiết yếu trong chế độ ăn cho bé suy dinh dưỡng cũng vô cùng quan trọng đối với sức khỏe của trẻ. Những chất không sinh năng lượng này có nhiệm vụ rất quan trọng trong quá trình chuyển hoá của cơ thể, thúc đẩy quá trình giải phóng năng lượng, giúp cơ thể hoạt động, bảo vệ các tế bào và cơ quan của cơ thể.

Sắt

Sắt tham gia vào quá trình vận chuyển và lưu trữ oxy, chuyển hóa các chất dinh dưỡng; tạo enzyme, tạo tế bào hồng cầu. Thiếu sắt là nguyên nhân thường gặp dẫn đến thiếu máu. Trẻ không được cung cấp đủ chất sắt qua khẩu phần ăn dễ bị suy dinh dưỡng thiếu cân, chậm phát triển trí tuệ, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa, hô hấp, nhiễm trùng da do thiếu vi chất dinh dưỡng như sắt, kẽm, vitamin A, vitamin nhóm B…

Chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng cần bổ sung thực phẩm giàu chất sắt có nguồn gốc từ động thực vật như thịt bò, thịt gà, gan, cá, trứng, mộc nhĩ, mè, rau dền, đậu xanh, rau má… kết hợp thực phẩm, rau quả giàu vitamin C để tăng cường hấp thu sắt.

Canxi

Canxi giữ vai trò cấu tạo xương, răng, tham gia vào quá trình đông máu và chuyển hóa một số chất dinh dưỡng. Thiếu canxi là một trong các nguyên nhân làm trẻ chậm mọc răng khiến hoạt động nhai, nuốt không tốt dẫn đến tiêu hóa hấp thu kém. Canxi có nhiều trong các thực phẩm: cá, trứng, các loại rau xanh đậm, sữa và các chế phẩm từ sữa…

I-ốt

I-ốt là vi chất dinh dưỡng quan trọng mà cơ thể cần được cung cấp hàng ngày để bảo vệ và nâng cao sức khỏe, trí tuệ. Vi chất này là nguyên liệu cần thiết cho quá trình tổng hợp nội tiết tố tuyến giáp trạng, giúp phát triển não bộ và tăng trưởng thể chất của trẻ em. I-ốt còn tham gia vào quá trình chuyển hóa các chất dinh dưỡng để cung cấp năng lượng cho các hoạt động của cơ thể. Nếu thiếu i-ốt từ trong bụng mẹ, trẻ khi ra đời dễ bị suy giáp bẩm sinh, lớn hơn có thể bị chậm phát triển trí tuệ, bướu cổ. Thực phẩm giàu i-ốt gồm: các loại hải sản, rong biển, muối biển…

Kẽm

Kẽm tham gia vào thành phần hơn 300 enzyme cho các phản ứng hóa học trong cơ thể, tham gia vào quá trình chuyển hóa các chất dinh dưỡng và quá trình phân chia tế bào. Thiếu kẽm khiến trẻ chậm phát triển thể lực, suy dinh dưỡng, giảm sức đề kháng, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng, rối loạn tiêu hóa, rối loạn chuyển hóa, suy giảm miễn dịch…

Bữa ăn hàng ngày của trẻ cần được bổ sung kẽm thông qua thực phẩm như: tôm, cua, hàu, ngao, thịt bò, thịt gà, hạt ngũ cốc, phô mai…

Vitamin

Các loại vitamin mà trẻ suy dinh dưỡng thường thiếu hụt là vitamin A, D, C vitamin nhóm B.

Thiếu vitamin A: trẻ chậm phát triển, dễ mắc các bệnh về da, suy giảm khả năng miễn dịch, ảnh hưởng tới thị giác… Vitamin A có trong các thực phẩm: cà rốt, đu đủ, bông cải xanh, cà chua, bí đỏ…

Thiếu vitamin D: trẻ bị còi xương, suy dinh dưỡng. Vitamin D có trong sữa và chế phẩm từ sữa, trứng, cá hồi, bơ, dầu gan cá, nhất là ở các loài cá béo (cá thu, cá hồi, cá trích…)…

Thiếu vitamin nhóm B: trẻ mệt mỏi, biếng ăn… Vitamin nhóm B như axit folic có trong bơ, gan, trứng, đậu phộng; các loại rau có lá xanh đậm như bông cải xanh, cải bó xôi, măng tây…

Thiếu vitamin C: cơ thể kém hấp thu sắt, canxi và axit folic. Vitamin C có trong các loại trái cây như cam, ổi, dâu, nho, kiwi…

Khi được cung cấp nguồn dinh dưỡng đầy đủ, trẻ nhỏ sẽ có nền tảng phát triển tốt trong những năm đầu đời. Đến tuổi đi học, trẻ có khả năng tập trung và tiếp thu tốt hơn, đồng thời có tốc độ phát triển “nhảy vọt” về thể lực và trí lực ở tuổi vị thành niên.

Song song đó, bố mẹ khuyến khích trẻ em tham gia tích cực các hoạt động thể chất, trải nghiệm thông qua các môn thể thao có lợi như: bơi lội, bóng đá, bóng rổ… Trong quá trình chơi các môn thể thao này cũng là lúc năng lượng trong cơ thể trẻ được tiêu hao đúng cách và kích thích trẻ ăn ngon miệng hơn.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết